AINghienCuu.comAI Nghiên Cứu
Trình bày một nghiên cứu nhỏ

Cách viết phần kết quả nghiên cứu: mô tả số liệu bằng bảng và lời văn

Viết phần kết quả nghiên cứu cho đúng: chỉ mô tả, không diễn giải; sắp theo câu hỏi; bảng hay hình; cách viết số, đơn vị, số mẫu; kết quả âm và dữ liệu bị loại.

Top-down view of a school lab bench in Thanh Hoa with rows of soil cups, a digital scale and a pencil resting on a blank grid notebook, hands of two students at the edges

Phần kết quả trả lời đúng một câu: bạn đã thấy gì. Nó mô tả số liệu đã xử lý bằng lời văn ngắn, kèm bảng hoặc hình, sắp theo thứ tự các câu hỏi nghiên cứu, và để dành mọi giải thích, so sánh với tài liệu hay ý nghĩa cho phần bàn luận. Một phần kết quả tốt đọc khá khô: nhiều con số, ít tính từ, không có chữ “vì”. Sự khô đó là điều người đọc khoa học mong đợi.

Bài này dành cho học sinh, sinh viên đã thu xong số liệu và đang ngồi trước bảng tính, chưa biết bắt đầu viết từ đâu. Bạn sẽ có quy trình sắp xếp kết quả, cách quyết định khi nào dùng bảng, khi nào dùng hình, cách viết câu mô tả có số, cách trình bày kết quả âm và dữ liệu bị loại, cùng những lỗi hay gặp. Mọi số trong bài là ví dụ giả định.

Ranh giới giữa mô tả và diễn giải

Câu mô tả nói điều gì xảy ra trong số liệu: nhóm nào cao hơn, bao nhiêu, xu hướng ra sao. Câu diễn giải nói vì sao, có nghĩa gì, có đúng ở nơi khác không. Phần kết quả chỉ chứa câu mô tả. Ví dụ giả định với một khảo sát về thói quen đọc sách của học sinh ở Hưng Yên: “68 trên 150 học sinh (45%) cho biết đọc sách ngoài giờ ít nhất một lần mỗi tuần” là mô tả. “Tỷ lệ này cho thấy văn hoá đọc của học sinh còn hạn chế” là diễn giải, và lại là diễn giải khá mạnh, thuộc phần bàn luận nếu có bằng chứng.

Cách tự kiểm: tìm trong phần kết quả những chữ như “do”, “vì”, “cho thấy rằng”, “chứng tỏ”, “điều này có nghĩa”. Phần lớn câu chứa những chữ đó đang diễn giải và nên chuyển sang bàn luận. Ngoại lệ là những câu mô tả quan hệ trong chính số liệu, như “nhóm tưới nhiều hơn có chiều cao trung bình lớn hơn”, câu này vẫn là mô tả vì nó không giải thích nguyên nhân.

Vì sao cần tách bạch? Vì người đọc muốn tự đánh giá số liệu trước khi nghe bạn giải thích. Nếu kết quả và diễn giải trộn lẫn, họ khó biết đâu là điều bạn đã đo, đâu là điều bạn nghĩ. Tách bạch cũng bảo vệ bạn: khi hội đồng không đồng ý với cách giải thích, phần kết quả vẫn đứng vững.

Sắp xếp phần kết quả trước khi viết

Viết kết quả khó nhất ở lúc bắt đầu, khi bạn có cả chục bảng tính và không biết đưa cái nào vào. Quy trình dưới đây giúp sắp xếp trước khi viết câu đầu tiên.

  1. Viết lại câu hỏi nghiên cứu, và nếu có, các câu hỏi phụ hoặc giả thuyết, thành danh sách đánh số.
  2. Với mỗi câu hỏi, chọn số liệu trả lời trực tiếp nó. Số liệu không trả lời câu nào đưa sang một danh sách riêng để cân nhắc sau.
  3. Bắt đầu phần kết quả bằng thông tin về mẫu: bao nhiêu mẫu ban đầu, bao nhiêu được phân tích, bao nhiêu bị loại và vì sao, đặc điểm cơ bản của mẫu.
  4. Sắp kết quả theo thứ tự câu hỏi, không theo thứ tự thời gian bạn làm hay thứ tự kết quả thú vị nhất.
  5. Với mỗi câu hỏi, quyết định dùng bảng, hình hay chỉ lời văn. Làm bảng và hình trước, rồi mới viết lời dẫn.
  6. Xem lại danh sách số liệu riêng ở bước 2: cái nào thật sự cần thì đưa vào cuối phần kết quả với tiêu đề kết quả phụ; cái còn lại đưa vào phụ lục hoặc bỏ.

Bước 3 hay bị bỏ qua nhưng rất quan trọng. Người đọc cần biết kết quả dựa trên bao nhiêu mẫu trước khi đọc bất kỳ con số nào khác. Nếu phát ra 200 phiếu, thu về 172, loại 12 vì bỏ trống quá nửa, thì kết quả dựa trên 160 phiếu, và câu đó nên đứng đầu phần kết quả.

Khi nào dùng bảng, khi nào dùng hình, khi nào chỉ cần lời

Không phải kết quả nào cũng cần bảng hay biểu đồ. Bảng dưới giúp bạn chọn.

Hình thứcDùng khiVí dụ giả định
Chỉ lời vănChỉ có một vài con số, so sánh đơn giảnTỷ lệ học sinh tham gia khảo sát theo khối lớp, chỉ hai khối
BảngNgười đọc cần con số chính xác để tra, nhiều biến hoặc nhiều nhómTrung bình, độ lệch chuẩn, số mẫu của bốn nhóm ở ba lần đo
HìnhCần thấy xu hướng, hình dạng, so sánh trực quanChiều cao cây theo ngày của ba nhóm
Bảng và lờiKết quả chính, cần cả số chính xác lẫn điểm nhấnBảng đặc điểm mẫu, kèm câu nêu điểm đáng chú ý
Trích dẫn nguyên vănNghiên cứu phỏng vấn, minh hoạ cho một nhóm ýMột hai câu trả lời tiêu biểu đã ẩn danh cho mỗi chủ đề

Nguyên tắc chung: không trình bày cùng một số liệu hai lần trong thân bài, vừa bảng vừa hình. Mỗi bảng, hình có số thứ tự, tiêu đề tự giải thích và được nhắc tới trong lời văn trước khi xuất hiện. Câu dẫn không đọc lại cả bảng mà chỉ nêu điều chính: “Bảng 2 cho thấy nhóm C có độ phân tán lớn nhất ở cả ba lần đo.”

Viết câu mô tả có số cho chính xác

Con số đi kèm đơn vị và mẫu. “Trung bình 6,4 giờ (n = 160)” rõ hơn “trung bình 6,4”. Với phần trăm, ghi cả số tuyệt đối: “45% (68/150)”, nhất là khi mẫu nhỏ, vì 50% của 4 người rất khác 50% của 400 người.

Làm tròn nhất quán. Chọn một mức làm tròn hợp với độ chính xác của dụng cụ đo và giữ nguyên cả báo cáo. Đo bằng thước có vạch milimét mà ghi chiều cao tới hai chữ số thập phân của milimét là giả vờ chính xác.

Nói rõ trung bình hay trung vị. Với số liệu lệch, như thời gian dùng điện thoại có vài người dùng rất nhiều, trung vị thường phản ánh “người điển hình” tốt hơn. Dùng thước đo nào cũng ghi rõ tên, kèm độ phân tán.

Mô tả xu hướng bằng từ trung tính. Dùng “cao hơn”, “thấp hơn”, “tăng dần”, “không khác nhiều”, tránh “áp đảo”, “đáng kinh ngạc”, “rất ấn tượng”. Mức độ khác biệt để con số nói.

Dùng thuật ngữ thống kê đúng nghĩa. Chỉ viết “khác biệt có ý nghĩa thống kê” khi bạn đã thực sự làm kiểm định và nêu được phép kiểm định cùng kết quả. Nếu chỉ so trung bình, viết “chênh lệch” và để bàn luận nói về độ chắc chắn.

Thì quá khứ cho việc đã quan sát. “Nhóm A có chiều cao trung bình…” hay “Sau 21 ngày, nhóm A đạt…” đều được, miễn nhất quán. Tránh viết như thể kết quả là quy luật chung, kiểu “rau muống trong đất nén cao 14 cm”.

Một đoạn kết quả viết lại: trước và sau

Xét một nghiên cứu giả định của nhóm học sinh ở Gia Lai: so sánh thời gian nảy mầm của hạt đậu xanh ngâm nước ấm và ngâm nước thường trước khi gieo, mỗi nhóm 30 hạt, theo dõi trong bảy ngày. Bản nháp đầu tiên viết: “Kết quả thí nghiệm rất khả quan. Hạt ngâm nước ấm nảy mầm nhanh hơn hẳn do nước ấm giúp vỏ hạt mềm ra. Điều này chứng tỏ nên ngâm hạt bằng nước ấm trước khi gieo. Ngoài ra có một số hạt không nảy mầm.”

Đoạn này mắc gần đủ các lỗi: đánh giá cảm tính ở câu đầu, giải thích nguyên nhân chưa được đo ở câu hai, kiến nghị vượt dữ liệu ở câu ba, và một chi tiết quan trọng bị nói lướt ở câu cuối mà không có con số. Người đọc không biết nhanh hơn là bao nhiêu, bao nhiêu hạt không nảy mầm, ở nhóm nào.

Bản viết lại: “Trong 30 hạt mỗi nhóm, 27 hạt ngâm nước ấm và 24 hạt ngâm nước thường nảy mầm trong bảy ngày theo dõi. Ở những hạt đã nảy mầm, thời gian trung vị là 2 ngày với nhóm nước ấm và 3 ngày với nhóm nước thường (Bảng 1). Đến cuối ngày thứ hai, 19 hạt nhóm nước ấm đã nảy mầm, so với 8 hạt nhóm nước thường (Hình 1).” Ba câu, toàn con số, không một chữ “do” hay “chứng tỏ”. Phần giải thích về vỏ hạt và câu hỏi có nên ngâm nước ấm khi gieo hay không được chuyển sang bàn luận, kèm chữ “có thể” và ghi chú rằng thí nghiệm không đo độ mềm của vỏ.

Kết quả âm, kết quả bất ngờ và dữ liệu bị loại

Kết quả không như giả thuyết vẫn phải được báo cáo đầy đủ và với cùng độ kỹ như kết quả ủng hộ giả thuyết. Viết thẳng: “Chiều cao trung bình của hai nhóm sau 21 ngày gần như bằng nhau (17,8 cm và 18,1 cm, mỗi nhóm 8 chậu).” Không thêm những chữ như “tiếc là” hay “đáng tiếc”; kết quả không có cảm xúc. Việc giải thích vì sao không thấy khác biệt thuộc phần bàn luận.

Kết quả bất ngờ, như một nhóm tăng trưởng nhanh ở tuần đầu rồi chững lại, cũng nên được mô tả trung thực, kể cả khi nó làm câu chuyện kém gọn gàng. Thường những chi tiết bất ngờ lại là chỗ đáng bàn nhất, và hội đồng có kinh nghiệm hay hỏi về chúng. Nếu bạn biết có sự kiện bất thường trong quá trình làm, như một đợt nắng nóng hay máy đo bị hỏng một ngày, ghi trong phương pháp và nhắc lại ngắn ở kết quả.

Dữ liệu bị loại phải được giải thích: bao nhiêu, vì sao, theo tiêu chí nào, và tiêu chí đó được đặt trước hay sau khi nhìn số liệu. Loại một chậu cây vì bị đổ là hợp lý; loại một chậu vì nó “làm hỏng trung bình” thì không. Nếu không chắc, bạn có thể báo cáo kết quả cả khi có và khi không có mẫu đó, để người đọc tự thấy mẫu đó ảnh hưởng tới đâu.

Nhờ AI soát phần kết quả mà không để nó tính thay

Phần kết quả là nơi AI dễ gây hại nhất nếu dùng sai, vì nó có thể tính sai trung bình, làm tròn khác bạn, hoặc nhận xét những xu hướng không có trong số liệu. Đừng dán bảng số liệu thô rồi nhờ AI viết phần kết quả. Hãy tự tính bằng bảng tính hoặc tay, tự viết bản nháp, rồi mới nhờ AI soát.

Câu lệnh soát hữu ích: “Đây là phần kết quả của một báo cáo nghiên cứu nhỏ. Hãy đánh dấu những câu đang diễn giải hoặc giải thích nguyên nhân thay vì mô tả số liệu, những con số thiếu đơn vị hoặc thiếu số mẫu, và những chỗ các con số trong lời văn có vẻ không khớp với nhau. Không viết lại, không tính lại.” Nếu AI chỉ ra một chỗ con số không khớp, bạn tự kiểm lại với bảng tính gốc thay vì tin vào con số AI đưa ra.

Trước khi dán, bỏ mọi thông tin có thể nhận ra người tham gia, như tên, lớp, trích dẫn phỏng vấn có chi tiết riêng. Dữ liệu thô có tên người tham gia không dán vào chatbot. Nếu đã dùng AI để soát, ghi vào dòng khai báo theo yêu cầu của nơi nộp, cùng với các việc khác bạn đã dùng AI.

Câu hỏi thường gặp

Phần kết quả có cần dẫn tài liệu tham khảo không?

Thường là không. Phần kết quả chỉ chứa số liệu của chính bạn. Việc so sánh với tài liệu thuộc phần bàn luận. Ngoại lệ là khi bạn dùng một thang đo hay phương pháp tính có sẵn và cần nhắc lại tên nó, nhưng tài liệu gốc đã được dẫn ở phần phương pháp.

Có nên đưa toàn bộ số liệu thô vào phần kết quả không?

Không. Phần kết quả chứa số liệu đã xử lý, như trung bình, tỷ lệ, xu hướng. Số liệu thô đưa vào phụ lục nếu nơi nộp yêu cầu hoặc nếu người đọc có thể cần kiểm lại. Một bảng thô dài vài trang trong thân bài khiến người đọc lạc mất kết quả chính.

Nghiên cứu phỏng vấn thì viết phần kết quả thế nào?

Sắp theo các chủ đề tìm thấy, mỗi chủ đề mô tả ngắn và kèm một hai trích dẫn tiêu biểu đã ẩn danh, ghi bằng mã người tham gia. Cho biết chủ đề đó xuất hiện ở bao nhiêu người trả lời. Vẫn tách mô tả khỏi diễn giải như với số liệu định lượng.

Kết quả phụ không liên quan câu hỏi chính có nên giữ không?

Giữ nếu nó thú vị và có thể gợi ra câu hỏi cho nghiên cứu sau, đặt ở cuối phần kết quả với tiêu đề rõ là kết quả phụ. Nếu nó chỉ làm báo cáo dài thêm mà không thêm hiểu biết, chuyển sang phụ lục hoặc bỏ.

Có được dùng ngôi “chúng em” trong phần kết quả không?

Được, như “nhóm ghi nhận…”, nhưng phần kết quả thường tự nhiên hơn khi lấy số liệu làm chủ ngữ: “Nhóm A có chiều cao trung bình…”. Điều quan trọng là thống nhất trong cả báo cáo và không đưa cảm xúc của người làm vào.

Phần kết quả nên dài bao nhiêu?

Với báo cáo 10 trang, phần kết quả thường khoảng hai đến ba trang kể cả bảng và hình. Độ dài phụ thuộc số câu hỏi nghiên cứu. Nếu phần kết quả dài hơn bàn luận rất nhiều, kiểm xem có đang đọc lại từng ô của bảng bằng lời văn không.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138